Hiện nay những tác phẩm truyền thống như hội họa và tranh khắc gỗ Việt Nam ngày càng được quan tâm nhiều hơn lịch sử cũng như các phát triên của loại hình nghệ thuật này.

Lịch sử của tranh khắc gỗ Việt Nam

Tranh khắc gỗ Việt Nam có nguồn gốc từ xa xưa. Sử sách từng cho biết vào thời Lý (1009 – 1225) dân ta đã có nghề khắc ván in kinh Phật, rất có thể người ta còn khắc cả các hình minh họa kèm theo trên ván nữa…

Năm 1396, Hồ Quý Ly cho phát hành loại tiền giấy Thông bảo hội sao mà chắc chắn phải dùng các ván gỗ để khắc và in cả chữ lẫn hình trang trí (chỉ tiếc ngày nay ta không thể biết hình ảnh của loại tiền giấy này ra sao). Cuộc xâm lược của giặc Minh (1407- 1427) đã tàn phá đất nước ta, một số ngành nghề bị tuyệt diệt, sau đó dân ta lại phải tìm cách học lại.

Giữa thế kỷ XV, thời Lê sơ, thám hoa Lương Nhữ Hộc (người Hải Dương) đi sứ sang Trung Quốc đã học nghề khắc in trên ván gỗ rồi về truyền dạy lại cho dân 2 làng Hồng Lục- Liễu Chàng quê ông. Ngày nay người ta vẫn thờ ông làm Tổ nghề khắc ván in tranh.

Sang các thế kỷ XVI, XVII, XVIII, khi nghệ thuật dân gian Việt Nam vươn tới đỉnh cao thì cũng là lúc các dòng tranh khắc gỗ dân gian ra đời như Đông Hồ, Hàng Trống, Kim Hoàng… Dù chưa tìm được bằng chứng về văn bản hay ván khắc nhưng đa số các nhà nghiên cứu cho rằng có thể dòng tranh Đông Hồ ra đời sớm nhất, khoảng thế kỷ XVI- XVII, dưới thời Mạc hoặc Lê – Trịnh.

Sau đó 2 dòng tranh Hàng Trống và Kim Hoàng có khả năng ra đời khoảng thế kỷ XVIII. Ở Huế có dòng tranh Làng Sình được đoán định ra đời khoảng đầu thế kỷ XIX. Dòng tranh khắc in Đồ thế ở Nam Bộ có lẽ ra đời muộn hơn, khoảng cuối thế kỷ XIX.

Ít được nghiên cứu nhất là dòng Tranh thờ miền núi Việt Bắc của thày cúng các dân tộc Dao, Tày, Nùng, Cao Lan, Giáy, Sán Dìu… với các tranh vẽ tay xen lẫn tranh khắc in nhưng đại thể dòng tranh này cũng phải xuất hiện chậm nhất vào thời Lê-Trịnh (thế kỷ XVII- XVIII). Dù không được coi như một dòng tranh dân gian nhưng loại tranh khắc in gọi là Thập vật trong kho của các chùa Việt cũng rất hấp dẫn, có khả năng ra đời từ thời Lê- Trịnh (thế kỷ XVII- XVIII).

Trường Mỹ thuật Đông Dương được thành lập năm 1925 đánh dấu một cột mốc quan trọng: sự chuyển biến từ tranh khắc gỗ dân gian sang khắc gỗ hiện đại Việt Nam. Khác với quá khứ, từ đây tranh khắc gỗ bắt đầu có tác giả với các ảnh hưởng phương Tây như bố cục, hình họa, giải phẫu tạo hình, luật xa gần và cách khắc thể hiện cảm xúc qua từng nhát xúc cũng như các loại mầu, mực in được du nhập.

Việc tiêu thụ tranh khắc gỗ hiện đại cũng đã khác xa: không bán mua ngoài chợ Tết hay để thờ cúng nữa mà nhằm đáp ứng nhu cầu chơi tranh trong xã hội hiện đại thông qua các gallery và triển lãm. Tranh khắc gỗ hiện đại bắt đầu được đóng khung treo tường tại phòng khách tư gia cho đến các công sở sang trọng.

Vật liệu làm tranh khắc gỗ Việt Nam

Gỗ khắc thường là các loại gỗ mực, thị, mít, vàng tâm, mỡ, giổi. Gỗ thị cứng mà dẻo, thường để khắc bản nét cho tinh vi, bền, lâu mòn. Có bản khắc gỗ thị dùng được 150 năm, truyền từ đời ông đến đời cháu, chắt.

Gỗ mực (thừng mực, lòng mức) nhẹ, coi như không rõ thớ, mềm, dễ khắc nhưng cũng chóng mòn, dễ mục nên thường để khắc bản mảng. Gỗ mít cũng dễ khắc nhưng hay có mắt gỗ, khó mềm đều nên thường khắc bản mảng. Gỗ vàng tâm có độ chắc trung gian giữa thị và mực, mít, thường làm hoành phi, câu đối nên có thể để khắc cả bản mảng lẫn bản nét.

Sang thế kỷ XX xuất hiện một số vật liệu mới có thể thay cho gỗ khắc như: thạch cao, cao su tấm, bìa ép MDF, thậm chí có người còn khắc lên đất sét. Riêng bìa ép MDF ngày càng phổ biến vì rộng bản tối đa mà không phải ghép (1m22 x 2m44), mặt siêu phẳng (vì là sản phẩm công nghiệp), không có thớ, lại mềm nên rất dễ khắc, nếu khắc hỏng thì dễ dán, vá lại.

Hiện giờ (2016) khoảng 80% họa sĩ tranh khắc VN đã khắc lên ván MDF. Thạch cao dễ khắc nhưng cũng dễ sứt, vỡ. Cao su tấm khắc được nhưng khó kiếm. Khắc đất sét là sở thích riêng của họa sĩ Tấn Cứ, làm khi đất ướt nên nét và mảng rất uyển chuyển…

Giấy để in tranh phổ biến nhất là giấy dó, giấy bản do các làng nghề truyền thống như Bưởi, Đống Cao… sản xuất. Giấy dó làm từ vỏ cây dó nên dai mà dịu. Sang đầu TK XXI nguồn cây dó sa sút và hiếm dần nên đang có xu hướng thay bằng bột vỏ cây dướng hoặc cây tre (trúc chỉ).

Riêng làng tranh Đông Hồ còn phát minh ra loại giấy điệp bằng cách quét bột nghiền từ vỏ sò điệp trộn hồ nếp lên giấy dó, tạo ra nền tranh có thớ lấp lánh và nếu được quét màu (đỏ, vàng, cam, cánh sen, xanh …) thì rất rực rỡ. Trước kia có lúc các dòng tranh Hàng Trống, Kim Hoàng nhập giấy từ TQ nay các loại giấy này ta sản xuất được.

Với loại tranh khắc bỏ nét, để lại mảng thì người ta in lên giấy mã quét màu đen. Với cách in màu sơn dầu (ở tp HCM hiện nay) thì người ta dùng giấy croquis dày và xốp. Đôi khi có người in tranh lên giấy báo, giấy Việt Trì nhưng khó đẹp bằng giấy dó.

Đục dùng khắc tranh dân gian xưa là các mũi thép (không có cán) gọi là ve, có 4 kiểu chính: Móng có lưỡi cong lòng máng rõ rệt, Thoảng có lưỡi chỉ hơi cong lòng máng, Thẳng có lưỡi phẳng, Dãy nền có lưỡi lòng máng nhưng thân ve cong để dễ đào, dũi sâu xuống gỗ.

Để cho nét khắc tinh vi, người ta dùng thêm dao trổ có đầu vát nhọn và mài sắc. Thời hiện đại có bộ dao đục có cán với 4 kiểu chính: Chữ V để khắc các nét nhỏ, mảnh, nét, Lòng máng gần giống đục móng nhưng nhỏ hơn và nhiều cỡ hơn, Lòng máng chữ U để khi khắc có thể lượn dễ hơn, Dao trổ có cán để tỉa cho sắc nét.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Written by

admin

Đây là blog về nội thất chia sẻ tất cả hiểu biết của Nghề gỗ về lĩnh vực thiết kế nội thất gỗ cho nhà ở và văn phòng, về các loại gỗ, đồ gỗ và kinh nghiệm thi công nhiều năm của Nghề gỗ trong lĩnh vực này.

Nếu blog này hữu ích thì bạn hãy ghé thăm thường xuyên để tìm hiểu những điều thú vị khác nhé!